Vì sao bị ho?

Nguyên nhân gây ho thường tùy thuộc vào thời gian xuất hiện triệu chứng. Ví dụ ho cấp tính có thể có nguyên nhân hoàn toàn khác với ho mạn tính, trong ho mạn tính có đến 25% trường hợp có ít nhất 2 bệnh gây triệu chứng ho trên cùng một người bệnh.

Đối với ho cấp tính, nguyên nhân hay gặp nhất là: cảm cúm, viêm xoang cấp, ho gà, đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm mũi do dị ứng hay không do dị ứng...

Ho bán cấp, thường là ho sau nhiễm khuẩn, viêm xoang cấp, hen phế quản.
ho

Ho mạn tính có thể do những nguyên nhân như: chảy mũi sau, hen phế quản, trào ngược dạ dày thực quản, viêm phế quản mạn, giãn phế quản, do thuốc như thuốc ức chế men chuyển điều trị tăng huyết áp, bệnh phổi mô kẽ, lao phổi, áp-xe phổi, ung thư,  hút thuốc lá... Một bệnh nhân ho mạn tính, nếu không hút thuốc, không dùng thuốc ức chế men chuyển và phim Xquang phổi bình thường thì có đến 90% trường hợp là do chảy mũi sau, hen phế quản hoặc trào ngược dạ dày thực quản.

Khi nào chứng ho cần được điều trị?

Ho chỉ là triệu chứng của một bệnh nên điều trị nguyên nhân gây ho thì triệu chứng này sẽ biến mất. Trong trường hợp ho cấp tính do cảm cúm, chỉ cần điều trị triệu chứng bệnh cũng dần dần tự khỏi. Tuy nhiên khi ho nếu thấy có kèm theo bất kỳ một trong những triệu chứng sau, bạn cần phải đi khám bệnh:

Ho có đàm xanh, nâu gỉ, vàng, ho ra máu, ho ra mủ có mùi hôi thối; ho có kèm đau ngực; ho có khó thở hay khò khè; có triệu chứng phù hai chân; ho thường tái đi tái lại vào ban đêm; ho ở người hút thuốc, khi triệu chứng này trở nên nặng hơn; sút cân đột ngột; sốt, vã mồ hôi; khản tiếng ở người ho mạn tính.

Ho và những biến chứng

Như trên đã nói, ho là phản xạ của cơ thể giúp tống các chất tiết, vi khuẩn gây bệnh ra khỏi đường hô hấp. Tỷ lệ điều trị thành công  khá cao: trên 85%. Tuy nhiên đôi khi ho có thể gây phiền toái cho người bệnh và người xung quanh, ho thậm chí còn có thể gây biến chứng nghiêm trọng như:

- Mất ngủ, mệt mỏi, biếng ăn, suy sụp tinh thần. 

- Kích thích, tổn thương thanh quản làm đổi giọng, co thắt thanh quản. 

- Phổi: vỡ phế nang, tràn khí trung thất, tràn khí màng phổi...

- Tim mạch: tăng huyết áp, vỡ mạch máu ở kết mạc mắt, niêm mạc mũi…

- Tiêu hóa: nôn ói. 

- Ở người loãng xương có thể bị gãy xương sườn, thoát vị bẹn. 

- Ở người đang dùng thuốc chống đông có thể bị tụ máu thành bụng. 

- Thần kinh: ngất, chóng mặt.
Biến chứng của ho

Ho lao là như thế nào?

Dấu hiệu cơ bản của bệnh lao là ho kéo dài; ngoài ra có thể gầy sút cân, sốt, ra mồ hôi... Tuy nhiên ho cũng là dấu hiệu của nhiều bệnh thông thường như: viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, ung thư phổi... Vì thế nhiều người chủ quan ngộ nhận lao với những bệnh thông thường, khiến bệnh có nguy cơ lây lan rộng trong cộng đồng và khó chữa, đặc biệt là lao phổi.
lao phổi

Vì vậy, khi bạn gặp những cơn ho kéo dài từ 3 – 5 ngày kèm theo ho có đờm, nhất là khi ho ra máu cần nghĩ ngay đến lao phổi. Rất nhiều người chủ quan với những cơn ho vì vậy bệnh ngày càng tiến triển, dẫn đến khả năng cứu chữa vô cùng thấp.

Theo Liên Hương.